Ông Hai Tri đang hào hứng kể về sản xuất máy gặt liên hợp “đời đầu”.
Chỉ với trình độ lớp nhất, (tương đương lớp 5 bây giờ). Một nông dân ở Khánh Hòa đã tự sản xuất máy gặt lúa liên hợp có thể cạnh tranh với các loại máy sản xuất trong và ngoài nước đồng ruộng miền Trung. Ông tuyên bố: “Đừng thấy máy Trung Quốc hiện đại mà coi thường máy của tui chế ra. Cùng bỏ ra số tiền như nhau mua máy, hết vụ gặt, cộng sổ lại, ai lãi hơn thì người đó “ thắng”. Nếu hạch toán lỗ, lãi, “chấp” máy Trung Quốc luôn”.
Đó là nông dân Nguyễn Tri (Hai Tri), sinh năm 1948, ở xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa. Tôi vào “nhà máy” sản xuất máy gặt đập liên hợp của ông Tri thấy không có gì trị giá ngoài mấy cái máy hàn, máy khoan cũ kỹ như bao thợ cơ khí “cấp xã” khác. Ông Tri chỉ tay giới thiệu: “Chiếc trong mái che là đời thứ 9. Nó vừa mới đi gặt ở ngoài Phú Yên về đó. Mấy hôm nay, trong xã Vạn Lương đang “bể đồng” (vụ gặt) “hắn” không “xuất kích” tham gia vì hai cha con tui phải tập trung hoàn thành chiếc đời thứ 10 này, chuẩn bị lôi cả cặp đi Phú Yên gặt cho “có anh có em”. Đời thứ 10 cơ bản đã khắc phục những lỗi kỹ thuật so với các đời trước. Ai chồng đủ 160 triệu đồng tui mới bán”.
Bản vẽ trong.... đầu
Ông Tri vốn có nghề thợ mộc, do làm không đủ ăn, ông chuyển sang lái máy cày thuê. Qua nhiều lần máy hỏng, mang phụ tùng đi hàn, sửa, người ta làm không ưng ý, ông “tức đời” mua máy hàn về mở xưởng cơ khí. Gọi là xưởng cho oai, thực chất chỉ là chỗ hàn - cắt - khấu vá nhỏ tại nhà. Về sau, máy tuốt lúa ra đời nhiều, ông đã tự mày mò chỉnh sửa để hạn chế lúa ra theo rơm. Ông ước ao tự tay mình làm ra một cái máy gặt lúa liên hợp giống như xem trên tivi, ngặt một nỗi không có đồng vốn lận lưng. Ý tưởng đó được “rò rỉ” đến tai đứa cháu chuyên đi tuốt lúa thuê. Người cháu về thuyết phục gia đình rót vốn cho ông tiến hành sản xuất máy gặt liên hợp. “Kết cấu của một máy gặt liên hợp gồm: hệ thống vừa di chuyển, vừa “ăn lúa”, băng chuyền, đưa lúa lên, buồng tuốt, quạt, chỗ ra lúa... tui đều suy nghĩ và hình thành bản vẽ phác thảo trong đầu. Cái khó nhất là tính toán các vòng quay của máy sao cho khớp nhau”. Ông Tri cho biết: Năm 2006, “đối tác” bắt đầu chuyển 30 triệu đồng cho ông đi mua một đống sắt thép về và bắt tay vào sản xuất máy gặt liên hợp. Những bộ phận “thân nền” như khung xe, bánh, cầu... coi như ông đã thuộc làu không cần ghi chép. Còn những chi tiết mới mang tính dây chuyền thì ông đo đạc, tính toán cẩn thận. “Tui coi ông chủ ruộng là trên hết, sau đó đến ông chủ máy. Người sản xuất ra máy xếp sau cùng. Vì ông chủ ruộng là người trả tiền tất cả, mình làm dối để máy nhanh hư, lúa ra rơm nhiều, người ta không xài máy của mình nữa”.
Với tư tưởng đó, trong sản xuất, ông “kỹ sư” trình độ lớp 5 này luôn suy nghĩ: đặt máy khéo léo gọn gàng, các điểm đấu nối – dây kéo phải đi trực tiếp, nhằm giảm chi phí, tăng lực máy hoạt động, nâng tuổi thọ các bộ phận. “Bất cứ bộ phận nào cũng có thể bị hư. Tui phải loại trừ những bộ phận nằm ở vị trí khó, chỗ chịu lực quay, lực gánh nhiều thì phải “kéo” tuổi thọ lên tối đa. Khi hư thì dễ tháo lắp, ít tốn công và chi phí thấp cho chủ máy” - ông Tri nói: Tác phẩm đầu tay, không có bản vẽ, hai cha con cứ cạy cục đo đạc, hàn, cắt, mài, đấu nối... Hết vật liệu thì dừng lại chạy vào thành phố Nha Trang tìm mua phụ tùng về làm tiếp. Có những bộ phận đã hàn, lắp ráp vào rồi, đêm nằm suy nghĩ thấy không ổn, sáng hôm sau ông tháo ra làm lại.
Những vị trí “nhạy cảm”, ông đi tìm mua ổ bi của Nhật Bản sản xuất với giá cao gấp 6 lần so với ổ bi bình thường. Dây xích nhỏ kéo các hệ thống phụ trợ, ông chọn của hãng Honda. “Tui chọn loại này, vì chiếc xe máy đã kiểm nghiệm rồi. Một dây xích chạy được cả hàng chục nghìn ki-lô-mét. Còn những vị trí đơn giản, chịu lực ít, tui chỉ sử dụng đồ thường để giảm chi phí giá thành của chiếc xe” - “kỹ sư” Hai Tri, phân tích. Về hệ thống truyền lực, ông đặt hai máy nổ, một máy kéo hệ thống tuốt hoạt động liên tục mà không ảnh hưởng lúc xe giảm ga cua góc hoặc chuyển làn gặt. Một máy đẩy 4 bánh lốp, kết hợp hai cầu, cho phép xe chạy mọi địa hình phức tạp. Theo ông giải thích, máy “độ chế” không thể nào đặt máy to có 4 động cơ được, chỉ đặt máy Đ (15-20 mã lực), loại mà người nông dân đã “hiểu ruột gan” của máy, nếu có hư bà con dễ dàng sửa chữa ngay trên đồng ruộng.
Ông Nguyễn Tri với chiếc máy gặt lúa liên hợp đời thứ 10 sắp hoàn thành.
Sau 6 tháng miệt mài sản xuất, chiếc máy gặt liên hợp đầu tiên của “kỹ sư” lớp 5 đã hoàn thành, lái đi hiên ngang giữa con đường liên thôn ra đồng gặt lúa thử nghiệm. Người dân xã Vạn Bình đứng xem ông như hội. “Tổng kinh phí của chiếc máy gặt lúa liên hợp “đời đầu” là 75 triệu đồng. Tui không lấy một đồng lãi nào, coi như là tiền tui bỏ ra để “học việc”, rút kinh nghiệm cho những chiếc sau” - ông Hai Tri “lý luận”.
Cạnh tranh với máy Trung Quốc
Sau “tác phẩm đầu tay”, ông Hai Tri tiếp tục sản xuất 8 máy gặt liên hợp theo đơn đặt hàng của người dân trong vùng, mỗi chiếc trị giá 120 triệu đồng. 2 năm gần đây, loại máy gặt liên hợp Trung Quốc tràn sang. Nhiều người mua máy Trung Quốc như bị “sa lầy” giữa ruộng. Ông Tri tâm sự: “Ông chủ ruộng không cần máy Tây hay máy Tàu gì đâu. Loại máy nào gặt - tuốt không còn sót lúa ra theo rơm là họ “chịu” liền. Làm ra một hạt thóc tốn bao nhiêu công sức, bây giờ gặt thấy thóc cứ phun ra ruộng, họ tiếc đứt cả ruột. Có gặt không công bà con cũng xua tay không thèm “chơi”. Tui muốn máy của mình “ăn” máy Trung Quốc, nên phải làm cho ông chủ ruộng hài lòng ngay tại đồng ruộng”.
Ông Nguyễn Trị, ở thôn Bình Trung 2, xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh có đến 13 hécta ruộng hiện đang sở hữu 4 máy gặt lúa liên hợp, trong đó 2 chiếc mua của ông Hai Tri cho biết: “Qua thực tiễn hoạt động trên ruộng đồng: Loại máy của anh Hai Tri mua về chỉ một thời gian ngắn là kéo lại vốn ngay. Trước đó, theo phong trào, tui bỏ ra 450 triệu đồng mua hai máy gặt của Trung Quốc và đầu máy kéo chở máy gặt, đến bây giờ mới thu hồi chưa đầy 150 triệu đồng tiền vốn. Mua về làm chưa được nửa vụ đã đứt xích, thay hết 14 triệu đồng, rồi gãy cốt, bể bi... Làm được bao nhiêu cứ đổ vô nuôi nó hết”. “Tui dám chắc, nếu máy do Trung Quốc sản xuất và máy do ông Hai Tri chế tạo gặt sát nhau thì máy Trung Quốc lo mà bỏ chạy xa, vì ra lúa theo rơm nhiều. Đó là chưa kể đến địa hình ruộng lúa bậc thang, ô nhỏ nằm rải rác nhiều nơi như Khánh Hòa, Phú Yên, máy do ông Tri sản xuất chạy bằng lốp, hai cầu dễ cơ động đến mọi ngõ ngách khi chủ ruộng kêu. Còn máy Trung Quốc muốn đi, phải “leo lên” xe kéo” ông Trị nêu những đặc tính cạnh tranh giữa máy “độ chế” của ông Hai Tri và máy sản xuất theo công nghệ hiện đại của Trung Quốc.
Hải Luận
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét